Giám đốc Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) gần đây đã khẳng định lại tại cuộc họp của Hội đồng Đại Tây Dương rằng, nếu cú sốc năng lượng do cuộc chiến giữa Mỹ, Israel và Iran gây ra tiếp tục trở nên trầm trọng hơn, tổ chức này đã sẵn sàng hành động, xả thêm dự trữ dầu mỏ để ổn định thị trường. Mặc dù hy vọng không cần phải sử dụng lại dự trữ chiến lược, nhưng sẽ sẵn sàng khi cần thiết. Phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh các nước thành viên của tổ chức này vừa hoàn thành đợt xả dự trữ dầu mỏ lớn nhất trong lịch sử vào tháng trước, với hơn 30 quốc gia thành viên đồng ý giải phóng 400 triệu thùng dầu thô và thành phẩm từ dự trữ chiến lược, trong đó riêng Mỹ xả 172 triệu thùng.
Tình hình hiện tại được đánh giá là mối đe dọa an ninh năng lượng lớn nhất trong lịch sử. Dữ liệu cho thấy, kể từ khi cuộc chiến bùng nổ vào cuối tháng 2, đã có hơn 80 cơ sở dầu mỏ và khí đốt ở khu vực Trung Đông bị phá hủy, bao gồm các cơ sở sản xuất, kho chứa và nhà máy lọc dầu, trong đó hơn một phần ba được phân loại là hư hại nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến sự gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu nghiêm trọng nhất trong lịch sử, lượng cung dầu mỏ toàn cầu mỗi ngày mất khoảng 13 triệu thùng, vượt xa mức thiệt hại khoảng 5 triệu thùng mỗi ngày của hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và 1979, quy mô gián đoạn nguồn cung khí đốt cũng vượt qua mức thiệt hại trong cuộc chiến Nga-Ukraine năm 2022.
Việc xả dự trữ chiến lược được xem là biện pháp chữa phần ngọn không giải quyết gốc rễ. Ngay cả khi toàn bộ 400 triệu thùng dự trữ được đưa vào thị trường, tính theo mức thiếu hụt cung ứng khoảng 8 triệu đến 13 triệu thùng mỗi ngày hiện nay, chỉ có thể đáp ứng được khoảng 30 đến 50 ngày. Nghiêm trọng hơn, do cơ sở hạ tầng như mỏ dầu, cảng biển và nhà máy lọc dầu bị hư hại nặng nề, ngay cả khi xung đột chấm dứt ngay lập tức, việc khôi phục nguồn cung năng lượng khu vực về mức trước chiến tranh cũng có thể cần thời gian lên đến hai năm. Hiện nay khoảng 20% thương mại dầu mỏ toàn cầu phụ thuộc vào vận chuyển qua eo biển Hormuz, trong khi chiến tranh khiến lượng xuất khẩu dầu thô và thành phẩm qua eo biển này đã giảm xuống dưới 10% so với mức trước chiến tranh.
Sau khi cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran tại Islamabad, Pakistan thất bại vào ngày 12 tháng 4, Mỹ đã chính thức khởi động lệnh phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran vào ngày hôm sau, hơn 15 tàu chiến Mỹ đã vào vị trí hỗ trợ hành động, khiến tình hình vốn đã căng thẳng càng thêm phức tạp. Giám đốc Cơ quan Năng lượng Quốc tế đã bắt đầu chuyến thăm toàn cầu vào tuần trước, điểm dừng chân đầu tiên chọn Australia, chính là vì khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang nằm ở tuyến đầu của cuộc khủng hoảng dầu mỏ này. Thủ tướng Nhật Bản đã trực tiếp yêu cầu chuẩn bị thực hiện việc xả thêm dự trữ để đối phó với cuộc chiến kéo dài. Dữ liệu cho thấy, hiện nay dòng chảy dầu mỏ toàn cầu mỗi ngày giảm khoảng 13%, dòng chảy khí tự nhiên hóa lỏng giảm 20%. Giá hợp đồng tương lai dầu thô Brent vào thứ Hai ghi nhận khoảng 102,8 USD mỗi thùng, tăng hơn 45% so với mức 70 USD trước chiến tranh. Nếu eo biển Hormuz đóng cửa trong suốt tháng 4, toàn cầu sẽ mất lượng dầu thô và thành phẩm tương đương gấp đôi tháng 3, đối mặt với một Tháng Tư Đen.





