Khi Nhật Bản chính thức chia tay kỷ nguyên lãi suất siêu thấp kéo dài nhiều năm, những cái giá ngầm của việc chi phí vay vốn tăng cao đang dần lộ rõ trong hệ thống tài chính. Tiến trình Ngân hàng Trung ương Nhật Bản dần từ bỏ lãi suất âm và chuyển sang tăng lãi suất đã trực tiếp thúc đẩy lợi suất trái phiếu tăng nhanh và giá trái phiếu giảm tương ứng. Đối với các tổ chức tài chính đã tích trữ lượng lớn trái phiếu chính phủ kỳ hạn dài trong môi trường nới lỏng kéo dài, sự thu hẹp giá trị sổ sách ở phía tài sản đang trở thành áp lực không thể bỏ qua, điều này cũng khiến bước tiến bình thường hóa chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản trở nên càng thêm nặng nề.
Trong cú sốc đảo chiều lãi suất này, ngành bảo hiểm nhân thọ Nhật Bản chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Dữ liệu mới nhất cho thấy, quy mô khoản lỗ chưa thực hiện từ trái phiếu chính phủ Nhật Bản do 4 tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất nước này nắm giữ đã tiến sát mức 15 nghìn tỷ yên, tương đương hơn 90 tỷ USD, tăng thêm khoảng 7% so với quý trước. Phần lớn lượng tài sản trái phiếu khổng lồ này được tích lũy trong thời kỳ Ngân hàng Trung ương Nhật Bản thực hiện chính sách nới lỏng quyết liệt, khi đó môi trường lãi suất thấp giúp các doanh nghiệp bảo hiểm khóa được lợi nhuận dài hạn, nhưng trong bối cảnh mặt bằng lãi suất hiện tại đang tăng lên, áp lực định giá đối với các trái phiếu cũ bị khuếch đại mạnh mẽ, phản ánh thị trường trái phiếu Nhật Bản đang trải qua đợt điều chỉnh mạnh mẽ nhất trong những năm gần đây.
Mặc dù con số lỗ chưa thực hiện trên sổ sách là rất lớn, nhưng những khoản lỗ này hiện chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở giai đoạn chưa hiện thực hóa. Các công ty bảo hiểm thường sẽ nắm giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn để khớp với các khoản nợ bảo hiểm dài hạn, không cần thiết phải bán tháo theo giá thị trường trong ngắn hạn. Đồng thời, lãi suất tăng cao cũng sẽ làm giảm giá trị hiện tại của nghĩa vụ chi trả bảo hiểm trong tương lai, phần nào bù đắp lại sự sụt giảm định giá ở phía tài sản. Tuy nhiên, điều thị trường thực sự lo ngại là rủi ro thanh khoản tiềm ẩn. Một khi tình trạng hủy hợp đồng bảo hiểm tăng tốc xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ buộc phải bán trái phiếu với giá chiết khấu trước khi đáo hạn, điều này không chỉ biến khoản lỗ trên sổ sách thành tổn thất thực tế mà còn có thể gây ra cú sốc trực tiếp đến sự ổn định của thị trường trái phiếu Nhật Bản.
Bộ dữ liệu khoản lỗ chưa thực hiện khổng lồ này đã đẩy Ngân hàng Trung ương Nhật Bản vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan về chính sách. Hiện tại, mức lạm phát của Nhật Bản vẫn cao hơn mục tiêu dài hạn do ngân hàng trung ương đặt ra, và tỷ giá đồng yên đang chịu áp lực, xét theo logic kinh tế vĩ mô, việc tiếp tục tăng lãi suất là lựa chọn hợp lý để ổn định tỷ giá và kiểm soát giá cả. Tuy nhiên, mỗi lần thắt chặt chính sách tiền tệ đều không thể tránh khỏi việc làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính trong nước. Làm thế nào để tìm ra sự cân bằng tinh tế giữa việc kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tỷ giá đồng nội tệ và phòng ngừa rủi ro trên thị trường trái phiếu cũng như các tổ chức tài chính, đã trở thành bài toán cốt lõi thử thách trí tuệ quyết sách của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản.
Đà tăng liên tục của lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản không chỉ giới hạn ở những ảnh hưởng trong nước, mà hiệu ứng lan tỏa của nó đang làm căng thẳng thần kinh của thị trường toàn cầu. Lợi suất tăng có thể tiếp tục gây xáo trộn tâm lý thị trường trái phiếu toàn cầu, và thông qua những thay đổi về chênh lệch lãi suất, định hình lại logic định giá của đồng USD, đồng yên và các loại tài sản rủi ro khác nhau. Nếu các nhà đầu tư tổ chức khổng lồ của Nhật Bản buộc phải điều chỉnh phân bổ tài sản ở nước ngoài do áp lực thanh khoản trong nước, những thay đổi trong dòng vốn của họ cũng sẽ tạo ra các phản ứng dây chuyền sâu rộng đối với thị trường vốn toàn cầu.





